Màng PE foam khổ 1m05: chọn khổ cuộn trước rồi hãy chọn độ dày

Khi phòng thu mua hỏi giá foam dạng cuộn, câu hỏi gần như luôn xoay quanh độ dày. Nhưng con số quyết định phần hao hụt lại nằm ở chỗ khác, đó là khổ cuộn. Màng PE foam khổ 1m05 là khổ hay gặp trong các cuộc hỏi hàng, và cũng là khổ mà nhiều bên mua chọn theo thói quen chứ chưa từng ngồi tính xem nó chia ra được mấy tấm cho đúng món hàng của mình.

Bài này đi theo trục khổ cuộn chứ không đi theo trục độ dày. Nội dung trả lời ba việc rất cụ thể: một khổ rộng chia ra được bao nhiêu tấm, phần rìa thừa sau khi chia mất đi bao nhiêu tiền, và nên đo hàng thế nào trước khi chốt quy cách với xưởng.

Dây chuyền đang chạy ra màng PE foam khổ 1m05 tại nhà máy
Dây chuyền chạy ra màng foam, phía sau là khu thành phẩm chờ chia khổ

Vì sao màng PE foam khổ 1m05 hay gặp khi hỏi mua foam cuộn

Khổ cuộn không sinh ra ngẫu nhiên. Nó là kết quả của ba thứ gặp nhau.

Thứ nhất là bề rộng chạy được của dây chuyền. Máy đùn foam có một khoảng bề rộng làm việc, và các khổ thương mại được chia ra từ khoảng đó sao cho phần thừa ở hai mép ít nhất có thể. Khổ quanh mốc một mét lẻ rơi đúng vào vùng thuận tiện của nhiều dây chuyền.

Thứ hai là kích thước hàng hóa phổ biến. Rất nhiều mặt hàng cần bọc có chiều dài cạnh nằm trong khoảng 20cm tới 50cm. Một khổ 105cm chia ra được nhiều bề rộng thông dụng mà phần rìa còn lại vẫn nhỏ, nên khổ này phục vụ được nhiều nhóm khách khác nhau trên cùng một lô chạy.

Thứ ba là thói quen kho bãi. Cuộn khổ quanh một mét vừa với giá để hàng, vừa với cửa xe tải nhỏ, và một người vẫn thao tác được khi cần kéo ra cắt. Khổ rộng hơn cả thì cần thêm người và thêm chỗ.

Vì ba lý do đó, màng PE foam khổ 1m05 trở thành một trong những khổ được hỏi nhiều, bên cạnh dải khổ cuộn xốp nổ mà xưởng chạy từ 20cm tới 1m5.

Khổ cuộn ảnh hưởng tới chi phí ở chỗ nào

Nhiều bên mua so giá theo mét vuông hoặc theo cuộn rồi dừng lại ở đó. Phần chi phí thật sự bị bỏ sót nằm ở khâu cắt.

Khi bạn mua một cuộn rồi cắt ra thành các tấm theo bề rộng hàng của mình, phần dư còn lại ở mép cuộn là phần đã trả tiền nhưng không dùng được cho mã hàng đó. Nếu bề rộng cần dùng chia không hết khổ cuộn, phần dư này lặp lại trên từng mét dài, suốt cả cuộn, suốt cả năm.

Ví dụ dễ thấy: cùng khổ 105cm, nếu bạn cắt tấm rộng 30cm thì mỗi lượt cắt được 3 tấm và còn thừa 15cm. Nhưng nếu bạn cắt tấm rộng 35cm thì được 3 tấm và không thừa gì. Chênh lệch giữa hai lựa chọn này là 15cm trên mỗi mét dài, tức khoảng 14 phần trăm số vật tư đã mua nằm lại ở đống rìa.

Đây là lý do vì sao chọn khổ nên đi trước chọn độ dày. Độ dày sai thì thấy ngay qua tỷ lệ hàng móp. Khổ sai thì không thấy gì cả, chỉ thấy đống rìa lớn dần trong góc xưởng.

Chia khổ 1,05m ra các bề rộng thường dùng

Bảng dưới đây tính sẵn cho khổ 105cm. Cột số tấm là số tấm cắt ra trên mỗi lượt cắt ngang khổ, và cũng chính là số tấm bạn có trên mỗi mét dài của cuộn.

Bề rộng tấm cần cắt Số tấm mỗi mét dài Phần rìa còn lại Tỷ lệ hao theo rìa
10cm 10 tấm 5cm Khoảng 4,8 phần trăm
15cm 7 tấm 0cm Không hao
20cm 5 tấm 5cm Khoảng 4,8 phần trăm
21cm 5 tấm 0cm Không hao
25cm 4 tấm 5cm Khoảng 4,8 phần trăm
30cm 3 tấm 15cm Khoảng 14,3 phần trăm
35cm 3 tấm 0cm Không hao
50cm 2 tấm 5cm Khoảng 4,8 phần trăm
52,5cm 2 tấm 0cm Không hao

Đọc bảng này sẽ thấy một quy luật gọn: những bề rộng chia hết cho 105 thì không để lại rìa, đó là 15cm, 21cm, 35cm và 52,5cm. Những bề rộng khác đều để lại phần thừa, ít thì 5cm, nhiều thì 15cm.

Cách tính nhanh mà không cần bảng: lấy 105 chia cho bề rộng tấm bạn cần, lấy phần nguyên là số tấm, phần dư nhân với chiều dài cuộn là tổng diện tích rìa của cả cuộn. Với cuộn dài 100m, mỗi centimet rìa tương đương 1 mét vuông vật tư nằm lại.

Với các mốc độ dày lớn, cách tính này vẫn giữ nguyên nhưng tiền hao lớn hơn nhiều vì đơn giá cao hơn, có thể xem thêm ở bài foam 25mm, 30mm và 40mm.

Đo hàng rồi mới chọn khổ, đừng ép hàng vào khổ có sẵn

Thứ tự làm việc đúng là đo hàng trước, tính bề rộng cần cắt, rồi mới đối chiếu với các khổ cuộn hiện có. Làm ngược lại thì bạn đang trả tiền cho phần vật tư không bao giờ dùng tới.

Bước đo Đo cái gì Ghi lại thế nào
Bước 1 Ba cạnh của món hàng cần bọc Dài, rộng, cao tính bằng cm
Bước 2 Số vòng quấn cần thiết Một vòng, hai vòng hay quấn kín
Bước 3 Bề rộng tấm cần cắt Chu vi mặt cắt cộng phần chồng mép
Bước 4 Phần chồng mép Thường 2cm tới 5cm tùy cách dán
Bước 5 Đối chiếu với khổ cuộn Lấy 105 chia cho bề rộng ở bước 3
Bước 6 Kiểm tra phần rìa Nếu rìa trên 10cm thì tính lại

Ở bước 6, nếu phần rìa vượt quá 10cm, bạn có ba hướng xử lý. Hướng thứ nhất là điều chỉnh nhẹ bề rộng tấm, ví dụ từ 30cm lên 35cm, chấp nhận tấm rộng hơn một chút nhưng không còn rìa. Hướng thứ hai là ghép hai mã hàng dùng chung một cuộn, mã này lấy phần chính, mã kia lấy phần rìa. Hướng thứ ba là đặt cắt khổ riêng.

Nếu bạn đang so sánh giữa các dòng foam khác nhau trước khi chốt khổ, bài màng PE foam và mút xốp PE EPE mô tả sự khác nhau giữa các tên gọi hay bị dùng lẫn.

Khi nào nên đặt cắt khổ riêng thay vì mua khổ có sẵn

Cắt khổ riêng nghĩa là xưởng chia cuộn theo đúng bề rộng bạn cần, thay vì bạn mua khổ tiêu chuẩn rồi tự cắt tại kho.

Việc này đáng làm khi số lượng của bạn đủ lớn để phần rìa tiết kiệm được vượt qua chi phí thao tác chia cuộn. Ngưỡng cụ thể phụ thuộc vào bề rộng bạn cần và độ dày đang dùng, nên cách làm thực tế là gửi cho xưởng ba con số: bề rộng tấm cần cắt, số lượng dự kiến mỗi đợt và nhịp lấy hàng. Từ ba con số đó xưởng nói được ngay phương án nào hợp lý hơn cho trường hợp của bạn.

Cắt khổ riêng cũng đáng cân nhắc khi kho của bạn không có bàn cắt và người cắt cố định. Cắt thủ công tại kho vừa tốn công vừa cho ra mép không đều, mà mép không đều lại làm tăng phần chồng mép khi quấn, tức là quay lại ăn vào vật tư.

Ngược lại, nếu mỗi đợt bạn chỉ lấy vài cuộn và bề rộng thay đổi liên tục theo đơn hàng, mua khổ tiêu chuẩn rồi cắt linh hoạt tại kho lại tiện hơn. Khổ tiêu chuẩn cũng dễ đổi mục đích sử dụng khi mã hàng thay đổi.

Đọc đúng ba con số trong một dòng quy cách

Trên báo giá và trên tem cuộn, quy cách thường được viết gọn thành một dòng ba số, ví dụ 3mm x 105cm x 100m. Nhiều nhầm lẫn giữa hai bên bắt nguồn từ việc đọc sai thứ tự ba con số này.

Con số thứ nhất là độ dày, ghi theo mm. Ở ví dụ trên là 3mm, tức lớp foam dày 3 li.

Con số thứ hai là khổ cuộn, tức bề rộng của cuộn khi trải ra, ghi theo cm hoặc theo mét. Ở đây là 105cm, chính là màng PE foam khổ 1m05 đang nói tới trong bài.

Con số thứ ba là chiều dài cuộn, ghi theo mét. Ở đây là 100m, nghĩa là trải hết cuộn ra được 100 mét dài.

Từ ba con số đó tính được diện tích một cuộn: 1,05m nhân 100m ra 105 mét vuông. Đây là con số nên dùng khi so sánh giữa các phương án, vì so theo cuộn thì hai cuộn cùng gọi là cuộn nhưng chiều dài khác nhau sẽ cho kết quả lệch.

Với dải khổ cuộn xốp nổ, thông tin chung xem tại trang cuộn xốp nổ.

Khu vực giao hàng

Xưởng đặt tại Khu Lò Gạch, Xã Dương Hòa, Thành phố Hà Nội. Khách quanh khu vực nhận hàng thuận tiện, thường trong ngày với các đơn đã chốt quy cách từ trước.

Trong Hoài Đức, xe giao đều đặn tới Dương Liễu, Di Trạch, An Khánh, Lại Yên và Cát Quế. Nhiều đại lý ở các khu vực này lấy hàng theo lịch cố định hằng tuần nên xưởng xếp sẵn lô theo khổ quen dùng.

Hướng phía tây, xưởng phục vụ KCN Thạch Thất Quốc Oai và CCN Ngọc Liệp. Đây là nhóm khách hay đặt cắt khổ riêng vì bề rộng chi tiết cần bọc ổn định theo dây chuyền.

Hướng Phúc Thọ, Đan Phượng và Thường Tín, hàng đi theo chuyến gom hoặc đi thẳng khi đơn đủ khối lượng. Hóa đơn VAT xuất đầy đủ theo từng đơn.

Hỏi đáp

Màng PE foam khổ 1m05 và khổ 105cm có phải một không

Là một. Đây chỉ là hai cách viết cùng một bề rộng cuộn, một bên ghi theo mét, một bên ghi theo centimet. Trong báo giá, xưởng thường ghi theo cm để đứng cùng hàng với các khổ khác cho dễ so.

Cuộn 105cm x 100m ra bao nhiêu mét vuông

Ra 105 mét vuông. Cách tính là lấy bề rộng tính bằng mét nhân với chiều dài tính bằng mét, tức 1,05 nhân 100. Khi so giá giữa các phương án, quy về mét vuông sẽ cho kết quả công bằng hơn là so theo cuộn.

Nên chọn khổ trước hay chọn độ dày trước

Nên đo hàng trước, từ đó ra bề rộng tấm cần cắt rồi chọn khổ, sau đó mới chốt độ dày theo mức va đập và cách xếp thùng. Chọn khổ trước giúp bạn biết phần rìa mất bao nhiêu, còn chọn độ dày trước không cho biết điều đó.

Phần rìa thừa có tận dụng được không

Có, nếu bạn có mã hàng nhỏ dùng đúng bề rộng đó. Nhiều xưởng gom rìa để lót đáy thùng hoặc chèn khe. Tuy nhiên tận dụng chỉ là cách xử lý phần đã lỡ, cách tiết kiệm gốc rễ vẫn là chọn bề rộng chia vừa khổ ngay từ đầu.

Đặt cắt khổ riêng cần số lượng bao nhiêu

Con số phụ thuộc vào bề rộng cần cắt và độ dày đang dùng, nên xưởng không đưa ra một ngưỡng chung. Bạn gửi bề rộng tấm, số lượng mỗi đợt và nhịp lấy hàng, xưởng sẽ phản hồi phương án và báo giá theo đúng trường hợp của bạn.

Giá tính theo cuộn hay theo mét vuông

Tùy quy cách và số lượng, nên xưởng không niêm yết một con số chung. Bạn gửi đủ ba con số trong dòng quy cách cùng số lượng dự kiến, xưởng gửi lại báo giá cụ thể. Liên hệ báo giá qua hotline 0838.068.668.

Chọn khổ cuộn là việc làm một lần nhưng ảnh hưởng tới mọi đơn hàng sau đó. Màng PE foam khổ 1m05 phù hợp với nhiều bề rộng thông dụng, nhưng chỉ khi bạn đã đo hàng và biết mình cần cắt ra bề rộng bao nhiêu. Gửi cho xưởng kích thước món hàng cần bọc cùng số lượng dự kiến, chúng tôi tính giúp phương án chia khổ đỡ hao và gửi báo giá theo đúng quy cách của bạn.

CÔNG TY TNHH SX&TM THT PLASTIC, Khu Lò Gạch, Xã Dương Hòa, Thành phố Hà Nội. Hotline 0838.068.668. Bán sỉ cho đại lý và nhà máy, xuất hóa đơn VAT đầy đủ.

#pefoam #mangpefoam #khocuon #xopfoamcuon #thtplastic

ZChat Zalo ☎Gọi: 0838.068.668
Scroll to Top